4 ĐIỀU KIỆN CẦN BIẾT KHI KẾT HÔN

Mục lục

Theo Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình, bốn điều kiện kết hôn gồm đủ tuổi, tự nguyện, không bị mất năng lực hành vi dân sự và không thuộc trường hợp cấm kết hôn. Nam phải từ đủ 20 tuổi, nữ từ đủ 18 tuổi. Theo Điều 9, việc kết hôn phải được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền.

1. Điều kiện kết hôn về độ tuổi

Theo quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình 2014: “Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên” thì được phép kết hôn.

Theo đó, độ tuổi bắt buộc có thể kết hôn với nam là từ đủ 20 tuổi trở lên và nữ là từ đủ 18 tuổi trở lên, so với Luật Hôn nhân và gia đình 2000 là “Nam từ 20 tuổi trở lên và nữ là từ 18 tuổi trở lên” thì điều kiện về độ tuổi kết hôn đã có sự thay đổi theo hướng tăng nhằm phù hợp với các quy định của luật có liên quan.

Khi người phụ nữ từ đủ 18 tuổi trở lên thì cơ thể hoàn thiện, việc mang thai và sinh con sẽ được đảm bảo an toàn hơn.

Mặc khác, vào độ tuổi này thì tâm lý đã hoàn thiện nên việc tiếp nhận khối kiến thức và kinh nghiệm sống sẽ tốt hơn, xử lý được các vấn đề trong cuộc sống.

Để thực hiện được chức năng này một cách tốt nhất, những người cha, người mẹ cần có trình độ nhận thức nhất định, có những suy nghĩ chín chắn để giáo dục con cái nên người.

điều kiện kết hôn

2. Điều kiện kết hôn về sự tự nguyện

“Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định”. Nguyên tắc tự nguyện trong hôn nhân được ghi nhận trong rất nhiều văn bản chứ không chỉ trong Luật Hôn nhân và gia đình.

Kết hôn trước hết là một quyền chứ không phải là một nghĩa vụ, không thể có hôn nhân ngoài ý muốn của kết hôn.

Theo đó, pháp luật quy định về điều kiện hai bên nam nữ tự nguyện quyết định hôn nhân nhằm đảm bảo việc tự nguyện thực hiện các nghĩa vụ của vợ, chồng, hạnh phúc gia đình và đảm bảo quyền tự chủ của công dân nói riêng và con người nói chung.

Sự tự nguyện của các bên phải xuất phát từ tình yêu chân chính giữa họ, đồng thời sự tự nguyện nam nữ trong việc kết hôn là nhằm xây dựng gia đình và cùng nhau chung sống lâu dài.

Vì vậy, trong trường hợp các bên có sự tự nguyện, nhưng không vì mục đích hôn nhân mà nhằm mục đích vi phạm pháp luật, đạo đức xã hội thì sẽ không được Nhà nước công nhận và sẽ bị xử hủy. Việc kết hôn do hai bên nam nữ tự quyết định, không chịu tác động của bên kia hoặc bất kỳ người nào.

Việc kết hôn do bị cưỡng ép, lừa dối thì không được pháp luật công nhận.

Sự tự nguyện của các bên phải được biểu hiện thông qua thủ tục đăng ký kết hôn, để đảm bảo việc kết hôn hoàn toàn tự nguyện, hai bên nam nữ phải cùng có mặt tại cơ quan có thẩm quyền về đăng ký kết hôn, nộp tờ khai đăng ký kết hôn.

Ngày mà cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành đăng ký kết hôn và trao giấy chứng nhận kết hôn thì cả hai bên nam và nữ vẫn phải có mặt.

Tại lễ đăng ký kết hôn, đại diện Uỷ ban Nhân dân hỏi lại nếu hai người vẫn đồng ý thì mới cho họ ký tên vào giấy chứng nhận kết hôn.

Người đại diện Uỷ ban Nhân dân cơ sở hoặc hai bên nam nữ tuyệt đối không được ký trước vào giấy chứng nhận kết hôn.

3. Điều kiện kết hôn về năng lực hành vi dân sự

Tại thời điểm kết hôn, nam nữ tham gia đăng ký kết hôn phải là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự.

Điều kiện này được xem xét theo tình trạng pháp lý của mỗi bên. Việc tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án theo Điều 22 Bộ luật Dân sự.

Điều kiện về nhận thức luôn gắn liền với điều kiện về ý chí.

Nếu hai bên nam nữ mất năng lực hành vi dân sự sẽ không thể hiện được ý chí tự nguyện của mình khi tham gia kết hôn.

Trong một số tình huống, nếu hôn nhân có hiệu lực pháp luật, họ cũng sẽ không làm tròn trách nhiệm của người cha, người mẹ, người vợ, người chồng trong gia đình và trách nhiệm với xã hội.

Do đó, họ không được phép xác lập quan hệ hôn nhân.

Xét về mặt xã hội, việc hạn chế kết hôn đối với người mất năng lực hành vi dân sự còn góp phần bảo vệ quyền và lợi ích của những người có quyền lợi liên quan.

Nếu họ được phép kết hôn, họ phải thực hiện các nghĩa vụ với các thành viên trong gia đình.

Điều này là quá sức đối với bản thân họ đồng thời cũng gây thiệt hại cho những người được hưởng quyền và có thể ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của các thành viên trong gia đình.

Xét dưới góc độ khoa học, việc kết hôn đối với người mất năng lực hành vi dân sự có nguy cơ đe doạ chất lượng dân số.

Theo khoa học về sự di truyền chỉ rõ, tính di truyền thể hiện thông qua việc di truyền các đặc điểm có gen từ thế hệ trước sang thế hệ sau.

Người bị mất năng lực hành vi dân sự mà xác lập quan hệ hôn nhân và sinh con thì có nguy cơ cao di truyền gen gây bệnh cho thế hệ sau.

Vì vậy, quy định về điều kiện năng lực hành vi dân sự này là yếu tố đảm bảo cho sự phát triển lành mạnh của các thế hệ về sau.

điều kiện kết hôn

4. Điều kiện về các trường hợp cấm kết hôn

Điều kiện cấm kết hôn là những quy định do Nhà nước ban hành, nếu nam nữ khi kết hôn mà thuộc một trong các trường hợp pháp luật quy định cấm kết hôn thì không được phép kết hôn. Điều kiện cấm kết hôn bảo đảm cho việc kết hôn đúng pháp luật và ngăn chặn những hậu quả không tốt xãy ra đối với vợ, chồng, con cái và xã hội.

Điều kiện kết hôn theo Điều 8 dẫn chiếu các trường hợp cấm tại điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5. Dưới đây là các nhóm trường hợp cần đối chiếu.

Thứ nhất, cấm kết hôn giả tạo

Kết hôn giả tạo là việc lợi dụng kết hôn để nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình.

Chính vì thế mà pháp luật nghiêm cấm việc kết hôn giả tạo để duy trì tính chất tốt đẹp của hôn nhân, tránh việc kết hôn trở thành phương tiện hưởng lợi ích.

Trên thực tế, kết hôn giả tạo còn có nghĩa là việc hai bên đồng ý kết hôn theo những hợp đồng, thoả thuận ngầm hoặc trái quy định của pháp luật để tiến hành kết hôn vì những mục đích khác hơn là mục đích xây dựng gia đình hay kết hôn trên cơ sở tình yêu đôi lứa.

Bởi lẽ, hôn nhân là việc xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Vì vậy, đây là trường hợp pháp luật cấm kết hôn.

Thứ hai, cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn

Một trong những nguyên tắc cơ bản trong Luật Hôn nhân và gia đình là hôn nhân tự nguyện, tiến bộ.

Theo đó, tự nguyện hoàn toàn trong việc là hai bên tự mình quyết định việc kết hôn và thể hiện ý chí mong muốn của mình.

Sự tự nguyện của các bên trong việc kết hôn là yếu tố quan trọng đảm bảo cho hôn nhân có thể tồn tại lâu dài và bền vững.

Ngoài ra, để đảm bảo nguyên tắc tự nguyện tiến bộ, Nhà nước cấm việc cưỡng ép, lừa dối kết hôn. Bởi lẽ, trong thực tiễn hiện tượng thiếu sự tự nguyện vẫn xảy ra. Hiện tượng này gây ảnh hưởng xấu đến cuộc sống và quyền lợi của những người kết hôn, gây hậu quả xấu cho gia đình và xã hội. Vì vậy, Nhà nước nghiêm cấm các trường hợp vi phạm.

Thứ ba, cấm kết hôn giữa những người đang có vợ hoặc có chồng.

Xuất phát từ bản chất hôn nhân xã hội chủ nghĩa là hôn nhân một vợ một chồng, tình yêu nam nữ được lấy làm cơ sở để xác lập hôn nhân, chỉ có hôn nhân một vợ một chồng mới đảm bảo được sự hạnh phúc, bền vững trong gia đình, Luật Hôn nhân và gia đình cấm người đang có vợ hoặc có chồng kết hôn với người khác.

Theo pháp luật Việt Nam, một người đã có vợ hoặc có chồng nhưng vợ hoặc chồng đã chết thì được kết hôn với người khác. Sự kiện một người chết có thể hiểu theo hai ý: đó là chết sinh học và chết pháp lý.

Tuy nhiên, ở nước ta vẫn tồn tại trường hợp một chồng có hai vợ, một vợ hai chồng.

Đó là trường hợp cán bộ, bộ đội đã có vợ hoặc chồng ở miền Nam, tập kết ra Bắc năm 1954 và lại lấy vợ, chồng khác.

Năm 1975, khi đất nước đã thống nhất thì họ trở về đoàn tụ với gia đình và tồn tại hai quan hệ hôn nhân.

Việc kết hôn trên tuy đã vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng nhưng do hoàn cảnh đất nước có chiến tranh nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Hoặc đối với trường hợp chết pháp lý, khi Toà án tuyên bố một người đã chết nhưng sau đó lại trở về.

Đối với những trường hợp như thế, pháp luật cần được vận dụng một cách linh hoạt.

Ngoài ra, việc nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn cũng không được pháp luật công nhận là vợ, chồng.

Người đang có vợ hoặc có chồng mà chung sống hoặc kết hôn với người khác hoặc chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ là vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng.

Vì thế, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: cấm người đang có vợ hoặc chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ.

Thứ tư, cấm kết hôn giữa người cùng dòng máu trực hệ, có quan hệ trong phạm vi ba đời

Quy định này phù hợp với các nghiên cứu khoa học và truyền thống đạo đức con người.

Khi trưởng thành, những đứa trẻ được sinh ra từ những ông bố bà mẹ có quan hệ anh em họ cũng dễ có nguy cơ sẩy thai hoặc vô sinh.

điều kiện kết hôn

.

Thứ năm, kết hôn giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi, những người từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi; bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng

Điều kiện này được quy định trước đó đã được Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 ghi nhận nhằm làm ổn định các mối quan hệ trong gia đình, đồng thời ngăn chặn được hiện tượng lợi dụng mối quan hệ phụ thuộc mà có thể xảy ra hành vi cưỡng ép kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi.

Do đó, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 tiếp tục kế thừa quy định này và có điểm tiến bộ hơn: Cấm kết hôn và chung sống như vợ chồng giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng. 

>> Đọc thêm: Việt Kiều được phép thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam?  

Câu hỏi thường gặp về điều kiện kết hôn

Đủ tuổi đã đủ điều kiện đăng ký kết hôn chưa?

Độ tuổi chỉ là một trong bốn điều kiện kết hôn. Hai bên còn phải tự nguyện, không bị mất năng lực hành vi dân sự và không thuộc trường hợp cấm. Hãy kiểm tra cả bốn điều kiện trước khi đăng ký.

Tổ chức lễ cưới có thay cho đăng ký kết hôn không?

Theo Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình, việc kết hôn phải được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền. Đáp ứng điều kiện kết hôn và tổ chức lễ cưới không thay thế bước đăng ký.

Rate this post
  • Công Ty Luật Nasalaw
  • Email: info@nasalaw.vn
  • Phone: 0901.30.11.91
  • 213A Nam Kỳ Khởi Nghĩa, P. Võ Thị Sáu, Q.3, TP. HCM
  • Giấy ĐKHĐ số: 41.02.8432/TP/ĐKHĐ
  • MST: 0316826829 Ngày cấp: 26/04/2018 tại Sở Tư Pháp TPHCM